GD. TSKH Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội đầu tư FDI.

GD. TSKH Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội đầu tư FDI.

Đây là chia sẻ của GS. TSKH Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp FDI tại Việt Nam, nguyên Phó chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước về hợp tác đầu tư (SCCI) trong buổi trao đổi với DĐDN.

Những năm gần đây, Việt Nam trở thành một trong những điểm đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài. Nhìn một cách tổng thể, trong 30 năm, vốn thu hút đạt khoảng 150 tỷ USD đã đóng góp vào khoảng 22% tổng vốn đầu tư xã hội, tương đương khoảng 18 – 19% GDP và 19% nguồn thuế thu hàng năm của Việt Nam.

- Những tác động nổi bật nhất của FDI được thể hiện ở những mặt nào của nền kinh tế, thưa ông?

Điểm nổi bật tác động FDI phải kể đến đó là lao động, chuyển giao công nghệ và hoạt động xuất nhập khẩu. Theo tôi, lao động chính là biểu hiện thành công nhất về tác động lan toả của dòng vốn FDI. Trước tiên là lao động, tổng số việc làm trực tiếp được tạo ra đạt khoảng 3 – 3,5 triệu việc làm. Có những con số thống kê số việc làm gián tiếp được tạo ra là khoảng 10 triệu việc làm. Tiền lương của người lao động khu vực FDI thường cao hơn nhiều so với khu vực khác. Ví dụ như lương bình quân của lao động trực tiếp tại nhà máy Sam Sung ở Thái Nguyên và Bắc Ninh đạt trung bình là 11 triệu VNĐ/người/tháng.

- Câu chuyện nào khiến ông ấn tượng nhất về tác động lan toả của FDI trong lao động, thưa ông?

Theo tôi thành công nhất về thu hút FDI trong lao động đó là hàng loạt các kỹ sư trẻ công nghệ phần mềm của Việt Nam làm việc tại các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) của các doanh nghiệp nước ngoài như Intel, Sam Sung, Panasonic hay Boss trong giai đoạn từ năm 2015 – 2017. Các “ông lớn” Intel và Sam Sung từng nhận xét rằng nguồn kỹ sư trẻ của Việt Nam đáp ứng được yêu cầu công việc tại các R&D của họ.

Theo đó, tỷ lệ những người lao động Việt Nam làm trong các khâu quản lý nhân sự, kỹ thuật, quản đốc, Phó giám đốc..., trong các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài đang tăng lên rõ rệt. Đặc biệt là trong các trung tâm R&D nói trên. Thông qua đầu tư nước ngoài, Việt Nam hình thành một đội ngũ cán bộ khoa học trẻ, những người sau này sẽ trở thành những “hạt nhân” phát triển theo các hướng khác nhau như khởi sự kinh doanh, trở về làm việc tại cơ quan nhà nước hay các doanh nghiệp Việt Nam.

- Có ý kiến cho rằng, Việt Nam có nguy cơ trở thành bãi thải công nghệ của doanh nghiệp FDI, ông bình luận gì về điều này?

Trong câu chuyện chuyển giao công nghệ, tôi được biết có hai luồng ý kiến liên quan đến nội dung này. Một luồng ý kiến đó là chuyển giao công nghệ là có vấn đề, thậm chí có người cho rằng, có nhiều doanh nghiệp FDI chuyển giao công nghệ không thân thiện với môi trường, tranh thủ cơ hội đưa vào Việt Nam khiến Việt Nam trở thành bãi thải. Những nhận định này chỉ là chung chung thôi, cũng chưa có ai chỉ ra rằng ở đâu là bãi thải.

- Xin ông chia sẻ rõ hơn về tác động của FDI trong chuyển giao công nghệ?

Theo Báo cáo Tổng kết 30 năm thu hút FDI của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, có 3 đánh giá liên quan đến tác động lan toả của FDI về công nghệ. Một là, nhìn chung công nghệ của doanh nghiệp FDI cao hơn nhiều so với công nghệ cùng loại được các doanh nghiệp trong nước sử dụng. Hai là, nhờ FDI Việt Nam đã nhập khẩu được các công nghệ hiện đại nhất. Ví dụ, trong ngành dầu khí, các tập đoàn như Mitsimishi, Total... đã sử dụng những công nghệ hiện đại nhất để thăm dò và khai thác dầu khí ở thềm lục địa Việt Nam. Vì thế, Tổng Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP) không chỉ ứng dụng thành công công nghệ khai thác dầu khí tiên tiến mà còn triển khai trong các dự án ở nước ngoài.

Ngoài ra, tác động lan toả của FDI trong lĩnh vực viễn thông cũng rõ nét. Để ngành viễn thông Việt Nam đạt được mức phát triển hàng đầu trong khu vực như hiện nay phải ghi nhận kết quả của dự án hợp tác giữa Tập đoàn viễn thông Australia Teltra và Tập đoàn viễn thông VNPT Việt Nam vào năm 1991. Khi đó, Việt Nam đang trong giai đoạn cấm vận, Teltra đã đưa vào công nghệ hiện đại nhất cùng chương trình đào tạo nhân sự chất lượng cao. Những thế hệ nhân sự thời đó giờ đã là những cán bộ chủ chốt của VNPT và những nhà truyền thông hàng đầu Việt Nam hiện nay. Đặc biệt phải kể đến các dịch vụ viễn thông không dây thế hệ mới được ra đời. Nếu trước đây chỉ là 2G, 3G thì nay đã có 4G và tương lai gần là 5G.

Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước phát triển nhanh về viễn thông trong khu vực ASEAN.

Ngoài ra, một số ngành khác nhờ có FDI đã tiếp cận được công nghệ hiên đại. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, nếu Việt Nam không có cơ sở hạ tầng viễn thông như vậy thì Việt Nam rất khó để tiếp cận cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 này.

Thứ ba, đó là tiếp nhận chuyển giao công nghệ. Với đội ngũ 3,5 triệu lao động trong khu vực FDI, nếu chỉ tính ở mức khiêm tốn khoảng 5% thôi, Việt Nam cũng có hàng vạn người lao động chất lượng cao.

Năm 2017 Việt Nam ghi nhận tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 400 tỷ USD, mức cao nhất từ trước tới nay, xin ông cho biết vai trò của dòng vốn FDI là như thế nào?

Thông qua FDI, Việt Nam đã hội nhập sâu với thế giới. Điều này được thể hiện ở việc Việt Nam tham gia các định chế kinh tế như IMF, WTO..., hay các hiệp định tự do thương mại, hoạt động xuất khẩu và đầu tư gắn bó mật thiết với nhau.

Năm 2017, xuất nhập khẩu Việt Nam lần đầu tiên vượt qua mốc 400 tỷ USD, đứng thứ 25 thế giới và thứ 2 ASEAN chỉ sau Singapore. Một con số rất ấn tượng. Cách đây 10 năm, Việt Nam chỉ xếp cao hơn Lào, Myanma, Campuchia thì bây giờ vị thế Việt Nam đã có sự thay đổi rất nhiều. Trong đó Việt Nam có những mặt hàng hàng đầu thế giới, không chỉ là gạo, tiêu, điều, mà còn là xuất khẩu mặt hàng điện tử. Trở thành cứ điểm sản xuất Smartphone, máy tính bảng. Năm nay 2017 Sam Sung xuất khẩu vào khoảng 50 tỷ USD chiếm khoảng 12,5% tổng sản lượng xuất nhập khẩu của Việt Nam. Ngoài ra, sản xuất của Intel tại Việt Nam chiếm khoảng 60% lượng hàng hoá xuất khẩu toàn cầu. Những con số này cho thấy vai trò của những doanh nghiệp FDI như Sam Sung, Intel góp phần không nhỏ đưa kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt mốc lịch sử.

Theo Báo Diễn đàn Doanh nghiệp (http://enternews.vn)